Hiển thị các bài đăng có nhãn retro. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn retro. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

nostalgia



Hà-nội,
ngày tôi đi... 
Chỉ còn nhớ mùi hoa nhài buổi sớm, 
long tong tiếng guốc ngoài sân gạch,
và chị tôi,
Tóc vấn trần vén lệch vành tai
Photobucket
Gần ba mươi năm,
em làm công dân thế giới
lớn lên từ bát xôi xéo gần nhà
Ấy cũng non ba thập kỷ,
Chị tôi vẫn nấu lá gội đầu
Rồi đau đáu chôn tóc xanh,
... chị đợi!
Photobucket
Ba mươi năm,
Phố cổ làm du lịch,
Chị tôi tóc vẫn vấn trần.
Hàng phố giờ gọi chị là nữ hoàng ngớ ngẩn
Ngạo nghễ thiết triều trên di tích hoàng cung
Photobucket
Ba mươi năm,
em vẫn hay gọi "Chị ơi!"
Khi nhác thấy lưng áo dài trên phố
(thời nay, chị biết không, Lê Phổ cùng Le Mur đâu còn tân thời nữa)
Tiếc mãi dáng lưng ong
em ngẩn ngơ,
chấp chới
níu đôi tà.
Photobucket
Ba mươi năm,
em vẫn thầm gọi "Chị ơi!"
mỗi khi giữa tiết trời đông
hơi thở dài thoảng mùi như hoa sữa
Tiệm sách cũ biết giờ còn mở cửa
Kẻo vàng hương lẩn thẩn, chị lại thở dài
xót chút tàn
văn hiến Tràng-an
Photobucket
Ba mươi năm có lẻ,
Tất tưởi,
Em chạy về tìm chị của riêng em
(hay em về tìm em, chả rõ)
Quên vị kem bờ hồ
cũng chẳng còn đâu lanh canh tàu điện
Hiệu áo cánh giờ bày bán đồ chơi Trung - Quốc
Va phải màu sơn xanh balcon sắt cuốn
Đau đáu
vói nhìn,
Em thê thiết gọi:
"Chị ơi!"
Photobucket
Rồi thì,
em vẫn gặp chị đấy thôi
lúc này, lúc kia trên phố
Kim anh trang đài một thuở
rồi chắc cũng lạnh lùng, lạ lẫm lúc sang thu.
Giữa phấn sáp của văn minh, tân kỳ cùng Âu hóa
Photobucket
Rồi thì,
em vẫn gọi "Chị ơi!"
Sau mỗi khóe tai vén lệch
tóc vấn trần
 
Hoài Anh
 
(Bài thơ này nguyên bản được chép tay, gửi tặng em Quý-Phương – thư ký tòa soạn tạp chí Tinh-Hoa, như một lời xin lỗi vì đã vô tình ra lời thóa mạ quốc sỉ khi cùng em đứng trước tàn tích hoang phế của một tòa biệt thự cổ. Lời xin lỗi và trân trọng trước cơn giận của em, cũng là lời trần tình cho cơn giận riêng tôi – tôi ái quốc, theo cách của riêng tôi, dẫu có lần tỏ ra khinh suất trong cực đoan duy mỹ.
Về sau em chọn đăng làm text cho chính bộ ảnh Hanoi Daily tôi làm stylist đợt ấy, bên trong có hình ảnh ngôi nhà cổ đã nhắc ở trên.
Lấy cảm xúc bởi một lần trà dư tửu hậu với Hoàng Thành – gã bạn gai góc lấc cấc Hà-nội, cùng tôi một lần tiếc tưởng hương hỏa đất thanh lịch Tràng-an.)
 Photography project: Hanoi Daily for Tinh Hoa Magazine
Photographer: Thiện Hoàng
Model: Minh Châu
Stylist: Hoài-anh
Text by Hoài-anh

Trích thư từ chia sẻ với Hà-nội Xanh về ký ức Hà-nội và kỷ niệm về bộ ảnh và bài thơ:

Hồi xưa, (ôi, giá như tôi sinh ra và sống thật nhiều trong cái “hồi xưa” ấy!) người Việt ta lành lắm. Phàm tự tâm, thời đại nào chả có vài thằng ác, đứa gian, ấy nhưng cái lời lẽ chu chuẩn “dạ, thưa”, kẻ có học, người trí thức được trọng thị, luôn gọi là “thầy” là “cô”. Kỹ lưỡng ra, phải tùy tuổi, coi phụ nữ có chồng thì trọng vọng gọi là “bà”. Đàn bà con gái nước ta, động ra đến mặt đường, phải o hàng xén cũng tong tả vạt áo dài, về sau các bà các cô đài các ra đường, tóc uốn điện, giày cao gót tay xách bóp đầm, cũng một bề áo dài nhưng cũng tân tiến lắm, cũng tây lắm, mà vẫn mồn một cái đài các thanh tú đàn bà nước Nam.
Cái ngày xưa của nước Việt ấy, thực dân đế quốc có án bề bề giữa lộ, có văn minh âu hóa tới đâu, mấy thầy thông cô ký có làm sở Tây sở Mỹ, vẫn tròn vành rõ chữ tiếng nước nhà.
Cái ngày xưa của nước Việt ấy, trò nhỏ lên lớp trên dẫu có được xưng “tôi”, được kêu bằng “anh”, bằng “chị”, vẫn nhu nhã cái nếp cúi đầu khoanh tay thưa gửi, vẫn nền nã ấp e tấm áo cánh che đậy làn da con gái sau một lượt áo dài, cặp táp ấp ngang ngực ấy là ý tứ giấu đi phù hiệu thêu trên ngực hòng tránh chuyện bị dõi theo chòng ghẹo.
Cái ngày xưa nước Việt, gia phong ngay giữa đô thành cũng không quên cái lễ khi khách, dẫu thân sơ, sang thì chung trà mà dẫu nghèo cũng ly nước. Bàn thờ ông bà cha mẹ nằm ngay gian chính điện cho ấm cúng gia trang. Ngày xưa ấy, lưu vết đến nay, ngay dưới ngưỡng cửa, đoạn ngay thềm, là thanh gỗ (nay mấy gian cổ tự Hội an vẫn còn, nước lên đen bóng), chả phải gia chủ cắc cớ đùa dai gạt giò khách lạ, cũng không phải chuyện ngăn chuột chống mèo, mà đơn thuần ấy là cái lẽ: Phàm viễn khách đáo gia, bước vào là đối diện ngay bàn thờ song thân phụ mẫu chủ nhà, dẫu muốn dẫu không, dẫu phương xa khó lòng rành rẽ tập quán bản xứ, âu cũng phải tòng nếp mà cúi đầu lúc bước vô. Kẻ hậu sanh khi nghe kể, ngộ ra chuyện này mà tấm tắc khen tiền nhân rằng sao hay, sao mà ý tứ, và sao mà kiêu hãnh thế từ gia phong cho chí quốc sỉ!
 
Có bận năm rồi về Hà-nội viết bài và làm bộ ảnh, do có lần đướng trước cổ tự điêu tàn, xót ruột mà bật ra mấy lời tiếng ngoại quốc nhiếc trách dân cư ngụ, do dốt mà thành ác. Có người bạn nghe được (bạn này là thư ký biên tập bên tạp chí nhà), giận lắm, về sau có nói lại rằng “Cái sĩ của dân mình, có đau có giận cũng không phải để mang ra bỉ bai cùng người ngoại bang. Có giận có đau, thì phải viết, viết bằng tiếng nước nhà, viết cho dân mình đọc, đặng hiểu, đặng sửa sai cảnh tỉnh, chớ đâu có lối phủ nhận riềng mối máu đỏ da vàng mà quay lưng lại, khác gì kẻ thiển cận mọn tài đứng bất lực khoanh tay oán trách thời cuộc!”. Nghe xong, thấy mình sai, phần vì phục người đồng nghiệp nhỏ tuổi mà rất khéo…gạ bài, nên trong đêm viết bài này làm text cho bộ ảnh nọ, cũng xem là một lời tạ lỗi, phân minh
 
Ba tôi người Huế, mẹ là con gái Hà nội. Tôi sanh ra ở cố đô Huế nhưng lớn lên ở Sài-thành, giữa hai khoảng giai đoạn ấy là những mảnh ký ức mỏng tang của những năm đầu đời, khi nhà tôi ra Hà-nội ở (ắt để mẹ tôi ở gần bà ngoại, cũng vì công việc của ông thân tôi khi ấy). Những mảnh ghép mong manh mập mờ mùi hoa nhài nhà ngoại tôi ở Lý Thường Kiệt, có cái cầu thang gỗ mà tôi mỗi lần nhìn thấy lại rất sợ, vì thấy nó to to, tối tối…ang ác, có màu xanh của balcon sắt uốn như tấm ren tinh xảo trên mấy căn nhà thời Pháp. Tôi mang máng nhớ những khi ba tôi cõng tôi lên vai tản bộ ra cái mà tôi gọi là “công viên con cóc” (ắt hẳn nhà tôi xưa phải gần đây lắm do trong kí ức của tôi, ba đã cõng tôi đi bộ suốt ra đến công viên). Trong những nhập nhằng hồi tưởng ấy, là đoạn đê đường Thanh Niên mà với một đứa trẻ như tôi khi ấy, là cả một cái đồi cỏ thoai thoải thênh thang, một bên là cỏ xanh và gió se se, phía bên kia là dãy tường ố vàng của dãy nhà to trông buồn, già và u uất. Hà-nội của tôi còn là bát bún ốc nước trong vị thanh thanh nhẹ nhõm, quả cả muối đến rúm ró quăn queo mà đậm đà đến tận chân tóc, cốc đỗ đen không có cái ngọt hào sảng đến dư dật của chè miền Nam, mà thanh như tiếng, như người, như trời Hà-nội.
Về sau, khi lên concept cho bộ hình Hanoi Daily và viết bài thơ Nostalgia (lấy làm thớ lợ lắm cách bày tựa nạc mỡ của mình, nhưng tại thói quen chọn ngay từ đầu tiên đến trong đầu làm tựa, về sau được tòa báo sửa lại thành Chị Tôi, nghe giống tựa bài ca, nhưng thôi kệ!), tôi vẫn thắc thỏm nhắc nhớ lại hết những hình ảnh quá vãng ấy.
3 tuổi, tôi lớn lên làm con gái Sài-gòn nhưng có cái biệt tài tùy người đối diện mà dùng giọng Bắc, giọng Nam bộ hay giọng Huế, cái nào cũng lơ lớ, lai lai, nhưng được cái về chốn nào nơi 3 thành phố lớn cũng dễ bề hòa hợp mà nhập gia.
Ấy nhưng lần nào cũng vậy, ra Bắc công tác cũng chỉ được dăm ba hôm, khi về vẫn nắc nỏm thòm thèm bởi nỗi chưa được ngụp lặn cho thỏa trong cái không khí vừa quen vừa lạ ấy, chưa có buổi rảnh rang mà tìm ghé qua coi thử chốn xưa liệu còn nhắc nhớ gì không những mảnh mỏng tang kí ức tôi ép kỹ trong tiềm thức thiếu thời. Hà-nội vẫn “sống” quá, trôi nhanh và ồn ào, không dừng lại cho tôi được ngắm kỹ đặng mỏi mòn tìm nét thân quen. Vậy nên, mỗi bận về, lòng lại càng đòi đoạn cơn hoài cố, nhớ lại càng nhớ thêm.
Rồi mãi cho đến về sau, được vời về làm cho một tạp chí tại Hà-nội, nhờ cái duyên may được ban biên tập cưng chiều trọng dụng, lại nhiều việc cậy nhờ nên có lắm dịp được lưu lại khá lâu, thậm chí có lần còn được mời cân nhắc chuyện chuyển hẳn ra Bắc để tiện cho công việc.
Nhớ lần chụp bộ ảnh Hanoi Daily, tôi tham lam với ước nguyện chả gì hơn là hối hả tom góp lại những nét còn nét mất, cậy nhờ kỹ thuật nhiếp ảnh tân kỳ, hòng mong lưu giữ lại cho kịp, kẻo nuối tiếc khi về sau mai một.
Một kỷ niệm không quên của chuyến làm ảnh lần ấy là chuyện về chiếc áo cánh. Thương tiếc cái duyên nền nã, kín đáo của chiếc áo cánh bằng phin nõn mà mẹ tôi kể lại rằng bà ngoại vẫn khâu tay cho các con gái. Vậy mà giữa lòng Hà-nội, tôi mất trắng một ngày ròng mải miết tìm nơi mua chiếc áo cánh phin nõn. Đến được địa chỉ có người tốt bụng mách cho thì đã tự khi nào là cửa tiệm bán đồ chơi Tàu cho nít nhỏ. Cùng đường, hỏi liều bà chủ nhà, nghe từ “áo cánh”, bà “scan” tôi từ đầu dưới chân như nhìn một con nhỏ hoặc là “ở bển mới về, trển mới xuống” hay “ở dưới mới lên”, hoặc tệ hơn là “ở trỏng (nhà thương) mới ra”. Tôi cảm ơn (?) và đi ra sau lời mắng “Ăn mặc như dân Sài-gòn mà hỏi lạ thế?”
Chuyện thứ hai là việc quyết định về kiểu tóc. Tôi khăng khăng muốn được nhìn lại cái gáy cong, cái khóe tai trang nhã sau nét tóc vấn trần kiểu cách ngày xưa, nhưng không một hair stylist nào của Hà-nội làm tôi hài lòng. Chỉ đến buổi sáng cuối cùng, may mắn cậy được người chuyên hóa trang của hãng phim đến làm tóc cho cô minh tinh Minh-Châu, tôi đành phải ngậm ngùi chấp nhận.
Dự tính chuyển đổi phương án tóc sang lối bánh bẻ. Lại hàng chục cú điện thoại, những chuyến đi tận mọi ngõ ngách Hà-thành, được cái được tòa soạn cưng chiều nên tôi huy động mọi anh em trong tòa soạn cùng tham gia vào cuộc “truy tìm hiện vật” rầm rộ và quy mô. Nhưng mọi cố gắng đều đã không tìm ra được cho tôi một chiếc cặp ba lá. Chỉ một chiếc cặp ba lá.
Than ôi Tràng-an thanh tú trong tôi, giờ phải chăng chỉ còn là hiện vật, là lớp hóa trang giả hiệu vụng về, là giả cách ngô nghê mất gốc?
Tôi ra về với một nỗi sợ, mỏng tang như những ký ức thiếu thời của mình vậy, rằng đã có một điều gì đó, nhỏ thôi, đã mất đi trước khi tôi kịp sờ tay vào, được ướm thử lên người cái cảm giác “hè thì mát, đông lại ấm áp” như mẹ tôi từng kể. Một điều gì đó, nhỏ thôi, như bàn tay bà tôi thoăn thoắt vấn lượt tóc nuột nà quanh đầu, nửa dung dị nửa trang đài. Hay thậm chí chỉ mấy lá nhôm lá thép kẹp lấy mái tóc đàn bà con gái cho chân phương kẻ chỉ…
 Tôi muộn rồi chăng?
 Vồ vập ôm vào lòng, những muốn biến thành của riêng để ấp yêu bảo vệ, tôi đặt để vào đấy hình ảnh vườn hoa con cóc, cái mũ cối bộ đội, nét tóc bánh bẻ, vấn trần duyên dáng ngày xưa, cái phối màu ố của tường vàng và xanh xỉn của balcon sắt, cái mùi giấy của hiệu sách cũ ọp ẹp thiếu sáng, cả cái huy hoàng quá lứa của một Hà-nội đang mất dần, loãng dần, ô tạp dần. Tôi thiết tha níu giữ trong ngậm ngùi thực tế của thời gian và thời cuộc
 Có ai đi giữa lòng kinh đô văn hiến, ngậm ngùi nhìn một tòa lầu dãy chết trong một nhan sắc đã từng hoàng kim nay hoang phế đến rợn người?
 Có ai đi giữa lòng Hà-thành, đã bao giờ chợt muốn thắp một nén nhang cho một ngôi cổ tự?
 Có ai đi giữa lòng Hà-thành, chợt muốn hét lên kêu cứu?

Y-phục Xứng Kỳ-đức


 .
  Người ta có rất nhiều lí do để …mặc quần áo
Trong bản chất tính năng trang phục, quần áo bao phủ làn da mỏng manh của con người bằng một lớp chất liệu gia cố để hỗ trợ giữ thân nhiệt cho cơ thể, để bảo bọc, che chắn cho cơ quan xúc giác khỏi những thương tổn do tiếp xúc với môi trường bên ngoài. 
e8a9
Rồi một vị tộc trưởng một bộ lạc nguyên thủy nào đó cậy khỏe, cậy tài săn thú mà được phần miếng vỏ cây, mảnh da thú dày nhất, to nhất. 
Các chiến binh đeo thêm vào người lủng củng chuông đá lục lạc đồng để gióng khua cho khiếp vía địch thủ, lại vẽ màu cắm lông khắp mặt, hình hài càng muôn phần bặm trợn cho dễ bề thị uy. 
Phụ nữ, thì không can dự vào phần thiên chức săn bắt hay bảo vệ - họ phải chửa đẻ, càng nhiều càng tốt (để dành đi săn bắt, đánh nhau và chửa đẻ về sau cho bộ lạc). Để thoả mãn thiên chức này, họ cần làm cho mình có bộ dạng thật ưa nhìn, bắt mắt, để dễ bề chiêu dụ đối tác đặng hoàn thiện thiên chức(!)
 Có lẽ các vị tổ tiên nữ của chúng ta đã nghiệm được rằng: người đàn bà trước và sau khi đeo hoa tai đều có khả năng sinh nở như nhau, nhưng người đàn bà có đôi hoa tai, và trên hết, là ý thức đeo đôi hoa tai ấy lại có tỉ lệ được hỗ trợ hoàn thiện chức năng cao hơn?  
Từ nhu cầu và động thái này mà thành khái niệm ngôn ngữ trang phục: tôi giàu, tôi khoẻ, tôi có quyền lực, tôi khả ái – thì tôi mặc như thế, hoặc ngược lại. Đến đây, ngoài chức năng cơ bản của trang phục, con người ta bắt đầu có khái niệm chọn lựa trang phục để chuyển tải thông điệp của bản thân. Và từ đấy, các nhà thiết kế, các hãng thời trang, đại diện quảng cáo và các người mẫu bắt đầu có công ăn việc làm và rất khá.
contemporary adNhững nhân vật ưu tú ăn bận đẹp nói trên, từ rày về sau được gọi là VIP, là yếu nhân, là người của công chúng. Họ là chính khách, doanh gia, các nhà văn hoá, nghệ sĩ,… Chả vì chỉ cậy mạnh (khối vị trong số này, nhất là nghệ sĩ, thì không to khoẻ như tổ tiên nguyên thủy của VIP), họ có tài năng, thành đạt, thông minh mẫn tiệp,… ở mức độ xuất chúng, trên mức bình thường nên mới được nhiều người biết đến, đặc biệt với sự có mặt của phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, càng khiến họ được biết đến nhiều hơn, không chỉ trong bộ tộc của mình mà vươn đến cả các bộ tộc (thời nay là quốc gia, lục địa,..) khác.
emperor family Các vị này, do tính trội bật của tài năng, cá tính và số phận nên cũng có những sở thích, quan niệm thẩm mỹ độc lập, đặc sắc và trội bật nên có được cho mình những gout ăn mặc cũng vô cùng trội bật, khác biệt. Mỗi người mỗi kiểu, họ là những trend-setters -  những hình mẫu về phong cách trong giới hay lãnh vực riêng của mình. Nhưng vẫn luôn có một điểm chung trong nguyên tắc phục trang của các yếu nhân đa dạng này. 
Như lời nói hay tiếng nói vậy. Nội dung điều muốn nói, thông điệp chuyển tải mang tính chủ quan, đó là điều chủ thể muốn thể hiện. Nhưng để thông điệp được tiếp nhận chuẩn xác và hiệu quả, người ta bắt đầu cân nhắc đến giọng nói và lời nói. Giọng phải dễ nghe, to nhỏ tuỳ hoàn cảnh không gian, giận thì gằn giọng, yêu thương thì ngân nga, thì thào, sì sụp,…rồi lời nói, người trên thì xưng “ông, bà, cô, chị,…”, kẻ dưới thì xưng “con, em, cháu…”, nói với kẻ hèn thì lời trịch thượng, với người sang thì từ ngữ trau chuốt văn hoa,…Và hẳn nhiên, nói với người Việt thì bằng tiếng Việt, với người Hoa thì chớ dùng tiếng xứ Angola. Điều này, ai cũng hiểu.
 Nói cho thích miệng mình, nói mà không ai nghe, là nói lảm nhảm với đầu gối.
Mặc cho sướng thân ta, mặc mà không ai coi, xem như là mặc nhảm vậy.
Nói, hay mặc, mà cân nhắc được đến độ này, ấy là xây dựng Giá-trị Nhận-dạng.
3_07_vietnamiennes
Cân nhắc lựa chọn tư phong, trang phục ở mức ấy, như thể là một môn nghệ thuật mà ở đó, hình ảnh cá nhân là tác phẩm, và con người ta là một nghệ sĩ: tác phẩm là hiện thân của tác giả. Tác phẩm thì có đẹp có xấu, cái coi thì hiểu, cái ngó vô thấy chướng. Mặc mà không ai coi, coi vô không biết ta thuộc loại người nào, là tác giả còn non tay, thiếu kinh nghiệm hoặc lập dị. Mặc mà cộng đồng xung quanh coi vô thấy cổ quái, xa lạ, còn nguy hiểm hơn nhiều, vì nó như ông Tây giữa xứ ta, nói chuyện không ai hiểu, nên mới có rào cản ngôn ngữ. Ở đây, đó là rào cản hình thức. Như thể đi cứu trợ từ thiện mà mặc áo dài dạ hội. Nếu chỉ vì tôi giàu, tôi đẹp, tôi quan trọng, tôi ưng bộ cánh nhà Cavalli dài quá xương chậu mà đi dự cuộc họp tổ dân phố bàn chuyện úy lạo chiến dịch phát quang diệt muỗi tại địa bàn dân cư, thì quả bậy bạ hết sức!
wth
 Hậu quả là bị cô lập, đào thải, hoặc thậm chí tẩy chay.
 Chuyện này không mới. Có ai chưa nghe câu “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”? Cà sa năm ba bảy loại, nhà giàu mặc gấm, nhà nghèo chỉ vải thô, phụ nữ có chít pence, thắt nơ, to béo thì may rộng, trời rét thì vải dày, trời oi bận vải mỏng…nhưng đã là đi với bụt, làm chi thì làm, ấy hẵng là cái cà sa. Không phải vì ta, mà vì bụt, và bụt là đối tượng của ta, đáng được cân nhắc lắm!

 Chắc không ai không nhớ bức ảnh tập thể đầy ấn tượng của các vị nguyên thủ quốc gia hồi hội nghị Apec tại Việt Nam (họ là yếu nhân cả đấy!) chụp chung, đạo mạo lịch thiệp, và tất cả đều vận áo dài khăn đóng. Họ ở nhà ta, họ mặc áo theo lối dân ta, khá khen cho người thiệp liệp giỏi giang, khéo theo thời theo thế mà ăn vận, đẹp lòng dân tình nước chủ nhà biết bao. Chả thế, họ mới là những yếu nhân đứng đầu các quốc gia.
Photobucket 
Photobucket Mà đâu chỉ các vị chính khách lão luyện chuyện uyên thâm mới ngộ được điều này. Thần đồng văn chương xứ cờ hoa mới 9 tuổi Adora Svitak cũng ngộ được mười mươi chân lý này. Vị đại sứ nhỏ này đã lưu lại trong lòng công chúng Việt hình ảnh của mình luôn trong bộ áo dài, khi thiên thanh, lúc xanh ngọc, với chuỗi ngọc trai thanh nhã quanh cổ, cô chinh phục trái tim công chúng ngay từ trước khi kịp mở miệng thi triển tài thuyết văn mạch lạc uyên bác so với tuổi. Mà chiếc áo dài ấy lại được may mới khéo, rõ là hợp với cô lắm, không chít pence nâng ngực tà dài kiểu người mẫu, nói chung, nó hoàn toàn hợp với tuổi cô, và công chúng của cô, môi trường quanh cô (khi ấy là Việt Nam). Cô nhỏ này, không chỉ nhờ cuốn Flying Fingers và tài năng văn học của mình mà sẽ còn thành công trong tương lai là còn nhờ vào bản lãnh ứng xử bằng ý thức xứng danh “người của công chúng” thực thụ.
 Chỉ hơi chạnh lòng một nỗi, trong các buổi giao lưu cùng bạn bè đồng tuế ở xứ Việt, hầu như Adora luôn là nhân vật duy nhất mặc chiếc áo dài trẻ em, học sinh nước ta mặc đồng phục theo kiểu Âu hoá với jupe xoè, quần Tây,…Thiếu nhi ta, trông thật năng động, hiện đại, trông Tây lắm!
(Đôi lời lạm bàn cùng quý vị độc giả nào đương giữ chức vụ nào đó trong ngành dạy trẻ: Nhà trường là nơi con người ta được giáo dục sao cho có văn hoá và ý thức rồi mới đến kiến thức và kỹ năng (tiên học lễ hậu học văn, phải không ạ?). Kính mong quý vị tận tình chỉ bảo các trò nhỏ nước nhà được dịp hội nhập với văn hoá mặc, văn hoá hành vi của tổ tiên nhà, bên cạnh ngoại ngữ và vi tính. Hoặc giả, những dịp được giao lưu cùng những vị khách như cháu Adora Svitak vậy chắc cũng có tác dụng làm gương, nhắc nhở và cảnh tĩnh. Cảnh tĩnh tự tôn và sĩ diện, rất tốt! Mong sẽ còn nhiều dịp như vậy!)
lady ad
 Đến đây, người viết - kẻ lẩm cẩm hoài cổ đang quấy quả quý vị lướt blog gia, lại muốn hầu tiếp qúy vị một câu chuyện (tôi hứa là không xưa bằng câu chuyện đã kể lúc đầu), đã được nhà thiết kế - họa sĩ Sĩ Hoàng kể cho nghe khi gặp ông thỉnh ý viết bài. Chuyện như vầy: ngày xưa, ông bà ta cũng cầu kì chuyện ăn bận lắm. Nhà giàu thì năm thân, mớ ba mớ bảy, dân dã thì tứ thân nâu sồng. Mà đã nghèo thì phải làm lụng vất vả, các bà các chị quang gánh quầy quả trên vai mãi, vải sờn và đương nhiên là rách vai. “Nghèo” mà không “thảm”, có “rách” cũng không được “nát”, không cam miếng vá đắp chằng đụp, mà chả đủ tiền mua vải may cả bộ cánh mới, các bà, các chị mua về vuông vải nhỏ mà may lại thân áo nối vào thay cho phần đã sờn rách. Từ đấy mà thành kiểu áo tứ thân đổi vai. Ngày nay ta vẫn thấy các đoàn văn công, các vũ đoàn minh hoạ mỗi khi bận tứ thân thường có hai mảnh áo trên hai màu sặc sỡ khác nhau. Ấy là kiểu tứ thân đổi vai ngày xưa mà thành. Dân ta sĩ diện lắm, ấy là danh dự của bản thân, của gia đình, dòng tộc,… Âu cũng là một cách mặc “vì người, xứng ta” vậy!
Thế mới tường chuyện vì sao chỉ quần quần áo áo mà thành một thứ văn hoá: văn hoá mặc!
teacher 
Phong-Vũ

Đập Cổ Kính Ra Tìm Lấy Bóng


aodaibangoai1Lẩn thẩn ngược dòng thời gian mới thấy, xứ ta xưa nay danh tiếng giai nhân thời nào cũng có, từ bậc anh thư thời dựng nước như Dương Vân Nga – bà hoàng mà tâm hồn và nhan sắc đã chinh phục hai vị danh tướng, về sau cùng là hai vị vua. Hoặc như bậc thi sĩ văn nhân có tiếng nhan sắc lại đa tình như Hồ Xuân Hương, thời phong kiến, trót sanh ra làm phận nữ nhi mà cũng thuyền năm bảy bến, lại dập dìu văn nhân tài tử tới lui, xét ra nhan sắc cũng không phải hạng thường tình. Đáng tiếc thay, hình dung nhân dạng các vị này thuở ấy đến nay không có gì lưu giữ, nên vĩnh viễn thuộc về lòng yêu kính trong nhân gian mà đúc tượng vẽ tranh, chứ không ai tường tận nhan sắc các bà đến bực nào sánh với kì tài, danh tiếng.
Còn lưu giữ hình ảnh đến nay, duy chỉ còn Hoàng hậu Nam Phương. Xứng danh là một bà hoàng cuối cùng của Việt Nam, ngoài nhan sắc vừa cao quý sang cả vừa nhu thuận nền nã, đúng chuẩn mũi dọc dừa, cổ cao ba ngấn và khuôn diện đăng đối, là người theo Tây học, vừa rành ngoại ngữ, vừa khéo phục tòng nhẫn nhịn vị cựu hoàng phong nhã. Nhưng rồi tấm hồng nhan dòng dõi ấy cũng qua đời nơi viễn xứ, viên bảo ngọc cuối cùng của vương triều một quốc gia giờ chỉ còn một phiến đá sơ sài khắc dòng chữ ngoại bang ici repose l'impératrice d'annam née marie thérèse nguyen huu thi lan.
Photobucket

NHỮNG NHAN SẮC HUYỀN THOẠI.
Về sau, những huyền thoại nhan sắc đã làm nàng thơ của bao văn nhân thi sĩ, những cô đào, kỹ nữ nổi tiếng, những người tiên phong cho trào lưu thẩm mỹ một thời trong nữ giới Việt Nam như cô ba Trà, mệnh danh bà hoàng vũ trường, sòng bài Saigon hồi cuối thế kỷ 19. Theo những ghi chép lại của nhà Sài-gòn học Vương Hồng Sển, cuốn Sài-gòn Tạp-pí-lù, thì người này chính là giai nhân đã khuynh đảo mà thành cuộc chiến bất phân thắng bại giữa Bạch Công tử và Hắc Công tử, về sau thành huyền thoại đặc trưng Nam bộ của Công tử Bạc Liêu, đốt tiền soi lối cho người đẹp. Cô cũng một thời là người trong mộng của tác giả Vương Hồng Sển. Quả tình, sức quyết rũ của Cô Ba Trà phải mạnh mẽ mê hoặc lắm, mới khuynh đảo bao nam nhân lẫy lừng cùng thời, từ những vị thiếu gia miệt tỉnh, đến các quý ông học vị học hàm thành thị, cho chí văn nhân đa tình như văn sĩ họ Vương. Nhưng mạn phép thầy Vương Hồng Sển mà nói, thì như Cô Ba Trà đây, dẫu kiều mị cỡ nào, cũng không thoát cái tiếng thường tình nữ nhi mà để đời xô đẩy, về sau cũng vì chuộng sân si phù phiếm mà dựa vào đàn ông mà thành danh, gọi là cái tài rù quến đàn ông, vậy thử hỏi, không có đàn ông, liệu Cô Ba Trà còn tài cán chi lưu danh cùng nữ nhi hậu thế? Vậy, xét ra, nhan sắc lẫy lừng nọ cũng còn chưa đủ để phác nên nét mặt đàn bà nước Nam. Vả chăng, dẫu cô Ba Trần Ngọc Trà danh sắc lẫy lừng là vậy, đến nay dường như tư liệu hình ảnh về cô cũng tìm không thấy có.
Sở dĩ phải gọi đầy đủ là Cô Ba Trà như vậy, là để phân biệt với Cô Ba có hình trên hộp xà-bông của hãng Xà-bông Việt-nam đầu thế kỷ 20, từng là hoa khôi chính thức (tức là có giải, có giám khảo chấm bầu hẳn hòi). May thay, hình ảnh về cô nay vẫn còn phổ biến nhất là tấm hình chân dung trên hộp xà-bông, vốn của ông Trương Văn Bền, đặt tên là hàng Xà-bông Việt-nam, nhưng sản phẩm in hình cô, về sau mặc tình lấy tên người đẹp trong hình mà gọi, thành ra cái tên Xà-bông Cô Ba đến này vẫn còn nằm trong tiềm thức của người Sài-gòn. Nhắc đến đây, phải nói là nếu ngành người mẫu Việt Nam có tổ nghiệp riêng thì đó ắt phải là Cô Ba. Cùng với hình ảnh và danh thơm của mình, hãng xà-bông của ông Trương Văn Bền đã là sản phẩm nội địa đầu tiên của doanh giới Việt Nam thách thức tên tuổi đại gia là hãng xà-bông Marseille trứ danh của người Pháp, vốn trước đó vẫn độc quyền thao túng thị trường bản xứ, đúng là xứng đáng rạng danh cho cả thương nhân lẫn người đẹp Việt Nam thời đó.
Photobucket
Theo tư liệu ghi lại, dung mạo Cô Ba được mô tả như sau: “Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia, hồi Tây mới đến có cô Ba, con gái thầy thông Chánh là đẹp không ai bì, đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực keo su nhơn tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi Nhà nước in hình vào con tem Nhà Thơ Dây Thép (Bưu điện)” (Sài-gòn Năm Xưa, Vương Hồng Sển), mới nghe đã thấy mồn một vẻ khả ái thanh tao lại chừng mực, đoan trang. Cô Ba lập gia đình và sống một cuộc sống bình thường.
Photobucket

Chỉ về sau, có tư liệu cho rằng cô Ba là "người đã dám cầm súng bắn chết tên biện lý Jaboin, bị Tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19.6.1893 và bị xử tử ngày 18.1.1894 tại Trà Vinh” (Hỏi đáp về Saigon-Tp.Hồ chí Minh, nhiều tác giả, NXB Trẻ, tháng 06 2006). Chuyện này cũng là ước chừng nghe vậy, chưa có bằng cớ xác thực. Cũng biết đâu chừng, phàm thói người hễ là bậc giai nhân tiếng tăm lẫy lững, phải có chút tiểu tiết ba đào mới vừa bụng?
Photobucket

Ngoài ra, cùng thời với Cô Ba “Xà-bông” và Cô Ba Trà còn có rất nhiều redhuyền thoại về những nhan sắc Sài-gòn thời ấy, nhưng vẫn hầu hết vẫn là những giai thoại truyền khẩu, qua mỗi miệng kể lại càng thêm phần ma mị, huyễn hoặc, khó phân biệt thực hư. Như chuyện ái nữ của Chú Hỏa – đại hào phú trứ danh của Chợ Lớn, cùng kết cục bi đát do mắc bệnh phong cùi hay tâm thần chi đó mà chết trẻ, hay chuyện cô Marriane Nhị (Tư Nhị), có thời theo chân Yvette Trần Ngọc Trà, khuynh đảo bao thiếu gia hiếu sắc, tưởng sẽ hưởng buổi mãn khai trong nhung lụa, nhưng về sau, lần cuối cùng được nhìn thấy đã thành người đàn bà hành khất, kéo lê cuộc sống thương tật trên hè phố Sài-thành,…
Độ giữa thế kỷ 20, tên tuổi các người đẹp Sài-gòn phồn hoa trở nên phong phú hơn bao giờ hết. Hầu hết là hàng minh tinh cinema, đào tuồng, giới ca sĩ, vũ nữ phòng trà, kể cả chính giới…
Một trong những dung nhan khuynh đảo chính trị thời này phải kể đến bà đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân. Bản lãnh, sắc sảo và đa tình, cũng là người khởi xướng mốt áo dài cổ thuyền (sau này gọi là áo dài Trần Lệ Xuân) thêu cây trúc quân tử lộn ngược một cách ngạo nghễ. Bà ngạo mạn tự ví mình với Marie Antoinette, với Trưng Vương đâm ra làm lắm chuyện vừa xấc xược thuần phong, vừa ngô nghê nực cười, khiến về sau, khi đã lưu vong tha hương, còn chăng trong dòng sử sắc đẹp chỉ một nét ố. Tiếc thay cho tấm hồng nhan, ghê gớm thay cho phận đàn bà cuồng vĩ.
Photobucket
Photobucket
Thời may, thập niên 70 còn có hai tên tuổi trứ danh nhất là nữ minh tinh màn bạc Thẩm Thúy Hằng và cố nghệ sĩ cải lương Thanh Nga.  
PhotobucketPhotobucket
Thẩm Thúy Hằng, được mệnh danh “Người đẹp Bình Dương” theo một phim nổi tiếng do cô thủ diễn. Khi nhan sắc mới được phát hiện, cô đẹp mơn mởn thanh xuân, khi đã nổi danh, những mong níu kéo lòng yêu mến của dân mộ điệu, lại nhờ thuật “gia cố” của phẫu thuật thẩm mỹ, trông lại càng vô cùng lộng lẫy. Cô đã từng hai lần đoạt giải Nữ Minh tinh Xuất sắc Á Châu tại Liên hoan Phim Đài Bắc, hai lần Ảnh hậu Á châu, danh hiệu Nữ Diễn viên Khả ái Nhất tại Liên bang Xô viết. Về sau trong dân gian, có nghe mấy câu vè ngộ nghĩnh rằng :
Nếu biết rằng em đã lấy chồng
Anh về lấy vợ, thế là xong.
Vợ anh chẳng đẹp bằng em mấy,
Chỉ đẹp xêm xêm…Thẩm Thúy Hằng
Vậy mới biết nhan sắc cô Thẩm này ngày xưa đã mặc nhiên được công nhận mà không cần trải qua sự kiểm duyệt của bất cứ ban giám khảo hoa hậu nào. Chỉ tiếc rằng, về sau, nhan sắc bị hủy hoại bởi hóa chất thẩm mỹ, công chúng ái mộ không còn được chiêm ngưỡng đóa hương sắc một thời ấy. Cô từ chối mọi cuộc tiếp xúc với công chúng, nghiên cứu Thiền học, chay trường và rất hiếm khi ra ngoài. Gần đây, lại thấy cô xuất hiện trên văn đàn với những kịch bản sân khấu và điện ảnh, như một cách tìm về với khán giả tri âm. Chỉ đến khi Thẩm Thúy Hằng đã rút về ở ẩn, ăn chay trường, người ta mới quên đi vẻ thiên kiều bá mị mà nhìn nhận ra tâm hồn và tài năng của người đẹp, hay phải chăng, đây mới là cái buổi mà nhan sắc tâm hồn đã tới kỳ viên mãn. Không khỏi ray rứt lòng người mộ điệu, trách cho oái oăm oan nghiệt của hồng nhan, lại càng trách cho nhan sắc mặn mòi thanh xuân là vậy, giá chi đừng nông nổi tham lam níu kéo, đã không nên đời bạc phận.
Cho đến tận ngày nay, lịch sử nhan sắc Việt Nam vẫn chưa lặp lại một tên tuổi nào có sức ảnh hưởng sâu rộng đến vậy. 
Cùng thời với nghệ sĩ ưu tú Thẩm Thúy Hằng là tên tuổi của người được mệnh danh là “bà hoàng sân khấu” của miền Nam trước và cả sau 1975 – nghệ sĩ nhân dân Thanh Nga. Mái tóc mây dài và khuôn mặt trái xoan chuẩn mực, có thể ví cô với một dung nhan đăng đối, quý phái kiểu Audrey Hepburn của Hollywood vậy. Nghệ sĩ Thanh Nga có thể được xem là một tên tuổi được yêu mến nhất của nghệ thuật cải lương cho đến tận bây giờ, phải chăng, một phần cũng vì phát súng oan nghiệt đã chấm dứt cuộc đời cô khi tài, danh, và sắc đẹp đang ở đỉnh điểm, để lại phía sau không chỉ một huyền thoại về thanh sắc độc nhất vô nhị, mà còn là lòng yêu mến ngưỡng mộ cho đến tận bây giờ.
Photobucket
 “ẢNH HẬU NHÂN DÂN” VÀ DANH HIỆU HOA KHÔI
Về sau, có lẽ chỉ với sự xuất hiện của nữ nghệ sĩ Diễm My, thì công chúng Việt Nam mới được một lần nữa nhìn ngắm nhan sắc kinh điển quý phái và mái tóc dài tương tự như vãn ảnh của cố nghệ sĩ Thanh Nga, tuy với đôi mắt sâu và sống mũi rất “Tây”. Tên tuổi rực rỡ nhất vào những năm 80 thế kỷ 20, khi mà nghề người mẫu còn vô cùng xa lạ tại Việt Nam, nghệ sĩ Diễm My đã tình cờ đi vào lòng công chúng không phải qua lãnh vực tân kịch hay điện ảnh mà là qua chính hình ảnh của mình, đặc biệt là qua ống kính phát hiện của nhiếp ảnh gia Nguyễn Kỳ. Cũng một phần với sự phát triển vượt trội về in ấn và xuất bản trong thành phố Hồ Chí Minh mà lịch và hình ảnh Diễm My cũng được tiêu thụ rộng rãi tại thị trường phía Bắc. Trong rất nhiều năm liên tiếp, hình ảnh của cô trên tờ lịch xuân mỗi năm đã trở thành một thước đo chuẩn mực về tiêu chuẩn cái đẹp lí tưởng, và cũng do đó, người đẹp Diễm My vẫn được phong danh hiệu Ảnh Hậu Nhân Dân (Hoa hậu chụp ảnh đẹp do …nhân dân bình chọn) giữ ngôi lâu bền nhất. Đến nay, tuy đã vào độ tuổi trung niên, Diễm My vẫn gìn giữ được vẻ đẹp vừa đài các, vừa thanh tân tươi tắn của hơn hai mươi năm về trước. Nói một cách khác, nhan sắc của “ảnh hậu miền Nam” Diễm My quả là hậu duệ xứng đáng của hương bóng tên tuổi Cô Ba hãng xà bông Trương Văn Bền ngày xưa.
Cũng từ cột mốc sắc đẹp và sự nổi tiếng của Diễm My, nghề người mẫu thời trang, các cuộc thi hoa hậu, hoa khôi cũng khởi sự rầm rộ tổ chức. Nối chân người đẹp Diễm My trải dài cho đến tận nay là muôn vàn những tên tuổi người đẹp mới xuất hiện: Kiều Khanh, Lý Mỹ Dung, Việt Trinh, Lý Thu Thảo,…
Photobucket
Đến những năm gần đây, người đẹp xuất hiện càng đông, đáng tiếc là không ít trong số này do trời phú chút dung nhan nhưng vụng đường giáo dưỡng mà nhẹ dạ gây không ít chuyện tai tiếng ê chệ, tiếng gọi “người đẹp” ngày nay cũng nhuốm ít nhiều ý mỉa mai chế giễu. Thêm phần, hầu như tiêu chuẩn “danh hiệu” đã trở thành điều tất yếu để công nhận người đẹp, nên mới có lắm cuộc vui gọi là thi xem ai đẹp nhất, mà nhiều người muốn đẹp nhất quá nên mới phải có càng nhiều cuộc thi, người đạt vương miện không gây nức lòng ngưỡng mộ, thậm chí không ít chuyện tiếu lâm về hoa khôi, hoa hậu ứng xử ngô nghê, nhân cách mù mờ, sinh ra lòng ngờ vực trong công chúng. Phàm đã quý phải hiếm, thứ chi nhiều nhan nhản cũng không thể trách lòng người hồ nghi. Hoa quý cũng chỉ một đóa trên cành, có đâu cả vườn hoa nhạt trồng vụng nở vội, hữu sắc mà hiếm hương, may chăng dùng làm phông nền chụp hình ngoại cảnh cho vui mắt thì được.
Sài-gòn như một người đẹp đeo quá nhiều nữ trang nên riết rồi công chúng không biết nên nhìn vào món nào mà trầm trồ ngưỡng mộ. Và rồi, thặng dư người đẹp mà đâm chóng chán, như thể mấy món đồ mỹ kí chóng bay màu nên thay đổi xoành xoạch, có đẹp, có long lanh, nhưng không phải hàng giá trị của món gia bảo quý giá, không chỉ vì kiểu cọ rồng phượng cầu kì hay cao giá bạc vạn, mà còn là bởi cái hồn ẩn chứa đằng sau, bởi cả cái độ bền bỉ của nước ngọc cùng tuế nguyệt thời gian, là nét trổ công phu tinh xảo, và đẹp chăng, giá trị chăng, ấy cũng là ở lòng người lấy làm quý, làm yêu mà giữ gìn nâng niu.
Hoa hậu hay hoa khôi, trộm nghĩ, thật chân ra, chỉ hậu duệ mới có quyền phán xét liệu chăng nét duyên có phải tận chân một chữ Mỹ mà tăng thêm giá trị về sau. Chứ là kẻ cùng thời, nhìn cũng chỉ biết đẹp, sao đoán được liệu sắc có còn đậm, hương có còn nồng ? Cũng một bề nhan sắc, thử hỏi có bao nhiêu tấm hồng nhan trở thành huyền thoại? Có chăng lúc này, cũng đáng cho kẻ đem lòng si mê cái sự đẹp nghiêng mình ghi tạ chút sắc hương những cánh hoa đời.sg17
(do giới hạn của bài viết mà không tiện đề cập đến còn nhiều, rất nhiều bậc tuyệt sắc Sài-gòn trước đây, ắt không khỏi làm thất vọng lòng người ham mộ các giai nhân này. Bản thân người viết áy náy vô cùng, khi chưa có dịp nhắc đến nhan sắc madame Kỳ, nữ hoàng lệ vàng Thanh Thúy, hay minh tinh Kim Vui. Đành đắc lỗi hẹn dịp khác.)